![]() |
| Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn phát biểu tại Hội nghị. |
Dư nợ toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng
Ngày 3/7/2026, Ngân hàng Nhà nước tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết, Hội nghị được tổ chức trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị đang quyết liệt triển khai các nhiệm vụ nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô theo định hướng của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Theo Thống đốc, mặc dù kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp do cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột quân sự kéo dài tại một số khu vực và chính sách tiền tệ thận trọng của các ngân hàng trung ương lớn, kinh tế - xã hội Việt Nam 6 tháng đầu năm vẫn đạt nhiều kết quả tích cực. Tăng trưởng được thúc đẩy gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, nhiều chỉ tiêu đạt mức cao nhất trong nhiều năm và được các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực.
Báo cáo tại hội nghị, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đoàn Thái Sơn cho biết, đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, tương đương bổ sung thêm khoảng 1,4 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế.
Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Đến cuối tháng 5/2026, khoảng 77% tổng dư nợ nền kinh tế phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong đó, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,09% tổng dư nợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,84%. Một số lĩnh vực ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng cao như xuất khẩu tăng 20,53% và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 26,36%.
Để tạo thêm dư địa cho tăng trưởng, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp điều hành tín dụng theo hướng ưu tiên các động lực phát triển kinh tế. Ngày 29/5/2026, Ngân hàng Nhà nước thông báo không tính phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với các dự án nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản.
Đồng thời, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về bảo đảm nguồn vốn cho các dự án quy mô lớn có tính lan tỏa, Ngân hàng Nhà nước cũng cho phép các ngân hàng thương mại được loại trừ phần dư nợ phát sinh đối với khách hàng triển khai các dự án trọng điểm khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng hằng năm.
Theo Ngân hàng Nhà nước, các giải pháp này nhằm hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành ưu tiên và động lực tăng trưởng, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.
Năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% và sẽ điều chỉnh linh hoạt tùy theo diễn biến thực tế nhằm bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống tổ chức tín dụng.
![]() |
| Quang cảnh Hội nghị. |
Cần tiếp tục phát triển thị trường vốn
Song song với điều hành tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành trong 6 tháng đầu năm, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế. Cơ quan điều hành cũng liên tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng ổn định mặt bằng lãi suất, công khai thông tin lãi suất cho vay trên website để khách hàng thuận lợi tham khảo khi tiếp cận vốn.
Đáng chú ý, sau cuộc làm việc giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại ngày 9/4/2026, các ngân hàng đã đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi đối với các khoản tiền gửi mới kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tiếp tục giảm lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.
|
Theo báo cáo kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vừa công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), đến ngày 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% so với cuối năm 2025, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt 7,41%. Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục duy trì xu hướng giảm. Trong tháng 5, lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại các ngân hàng thương mại phổ biến ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và dưới 1 tháng; 4,1-4,6%/năm đối với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 5,9-7,4%/năm đối với kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng; 5,7-7,1%/năm đối với kỳ hạn trên 12 đến 24 tháng và 7,1-7,6%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng. Lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8-10,1%/năm. Riêng lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với các lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần 4%/năm do Ngân hàng Nhà nước quy định. |
Đối với tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt nhằm hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài và góp phần kiểm soát lạm phát. Theo báo cáo tại hội nghị, từ đầu năm đến ngày 30/6/2026, tỷ giá liên ngân hàng chỉ tăng khoảng 0,07% so với cuối năm trước.
Đồng tình với báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm của Ngân hàng Nhà nước, phát biểu tại Hội nghị, TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đánh giá, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục chịu tác động từ xung đột địa chính trị, chính sách của các nền kinh tế lớn và sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế, cùng với khó khăn của khu vực doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt đã góp phần quan trọng kiểm soát lạm phát và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, theo TS. Đào Minh Tú, hệ thống các tổ chức tín dụng vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, nổi bật là sự mất cân đối giữa huy động vốn và tăng trưởng tín dụng. Nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn trong khi các kênh dẫn vốn trung và dài hạn chưa phát triển tương xứng, khiến áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng. Điều này cũng tạo sức ép đối với mặt bằng lãi suất, đòi hỏi phải hài hòa giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp và bảo đảm an toàn tài chính của các tổ chức tín dụng.
Từ thực tiễn hoạt động của các ngân hàng, TS. Đào Minh Tú kiến nghị tiếp tục phát triển thị trường vốn để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng; đồng thời đẩy nhanh sửa đổi các luật liên quan như Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Phòng, chống rửa tiền, cũng như hoàn thiện các quy định về xử lý tài sản bảo đảm nhằm tháo gỡ khó khăn trong xử lý nợ xấu.
Theo Ngân hàng Nhà nước, trong nửa cuối năm, cơ quan điều hành sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa; theo dõi sát diễn biến lãi suất, tỷ giá và thị trường quốc tế; sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, đồng thời tăng cường thanh tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương về lãi suất nhằm vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

