Phân định rõ phạm vi điều chỉnh và trường hợp loại trừ hòa giải
Một trong những nội dung trọng tâm nhận được nhiều sự quan tâm của các đại biểu là phạm vi điều chỉnh và các trường hợp không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở (Điều 1 và Điều 3).

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu, đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau phát biểu
Phát biểu tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu, đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau bày tỏ sự băn khoăn đối với quy định loại trừ các hoạt động hòa giải được luật khác quy định tại khoản 2 Điều 1 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, việc quy định loại trừ chung chung như vậy vô hình trung sẽ thu hẹp đáng kể phạm vi điều chỉnh của đạo luật này. Thực tiễn cho thấy nhiều đạo luật chuyên ngành như Điều 235 Luật Đất đai, Điều 52 Luật Hôn nhân và Gia đình đều có quy định mang tính khuyến khích mạnh mẽ việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở. Nếu không tổ chức hòa giải ngay từ cơ sở đối với các mâu thuẫn này, một mặt sẽ khó bảo đảm sự ổn định an ninh trật tự tại địa phương, mặt khác sẽ tạo gánh nặng quá tải cho hệ thống Tòa án. Do đó, đại biểu kiến nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần diễn đạt quy định loại trừ một cách cụ thể và rõ ràng hơn. Theo đó, chỉ nên giới hạn loại trừ đối với hoạt động hòa giải của Tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải viên lao động, hội đồng trọng tài lao động, và hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, đặc khu.

Đại biểu Nguyễn Đức Hùng (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) phát biểu
Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Đức Hùng (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) cho rằng việc loại trừ một loạt các nhóm vụ việc tại khoản 1 Điều 3 (như mâu thuẫn xâm phạm lợi ích công cộng, vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội) đang đặt hòa giải viên vào vị trí phải thực hiện những nhận định pháp lý vô cùng phức tạp, vượt quá năng lực thực tế của họ. Đại biểu đề xuất nghiên cứu chỉnh sửa quy định theo hướng: các vụ việc chỉ không thuộc phạm vi hòa giải khi đã được cơ quan có thẩm quyền chính thức xác định thuộc trường hợp phải xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, cần bổ sung quy định làm rõ nguyên tắc việc xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan chức năng không loại trừ việc các bên tự nguyện hòa giải các nội dung về bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả hoặc xin lỗi dân sự.
Hoàn thiện tiêu chuẩn hòa giải viên và cơ cấu tổ chức Tổ hòa giải
Góp ý vào các quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên (Điều 7) và cơ cấu tổ chức Tổ hòa giải (Điều 14), các đại biểu đã đề xuất nhiều giải pháp mang tính thực tế và thống nhất với hệ thống pháp luật.

Đại biểu Nguyễn Thị Quý (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) phát biểu
Đại biểu Nguyễn Thị Quý (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) đánh giá cao việc dự thảo Luật đã bổ sung tiêu chuẩn không trong thời gian bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự để bảo đảm tính nghiêm túc, đồng thời hoan nghênh việc thay đổi tiêu chuẩn nơi cư trú từ "thường trú" sang "cư trú thường xuyên" nhằm mở rộng nguồn nhân lực có uy tín, năng lực tại địa bàn. Tuy nhiên, để đảm bảo tính đồng bộ pháp lý, đại biểu đề nghị lược bỏ cụm từ "thường xuyên" và chỉ quy định là "cư trú tại cơ sở", do Luật Cư trú hiện hành không có khái niệm "cư trú thường xuyên", tránh gây lúng túng cho địa phương khi áp dụng. Để hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, đại biểu Phan Chí Hiếu đề xuất chuyển nội dung quy định về "tự nguyện tham gia hòa giải ở cơ sở" (hiện đang ở khoản 1 Điều 8) gộp chung vào tiêu chuẩn của hòa giải viên tại Điều 7 để áp dụng thống nhất, tránh lẫn lộn giữa "tiêu chuẩn" và "điều kiện" để tổ chức bầu hòa giải viên.

Các ĐBQH tỉnh Bắc Ninh tại phiên thảo luận
Về cơ cấu Tổ hòa giải, đại biểu Nguyễn Đức Hùng (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) cho rằng quy định cứng bắt buộc mỗi tổ phải có hòa giải viên nữ và hòa giải viên là người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chưa phù hợp. Trong bối cảnh sáp nhập thôn, tổ dân phố địa bàn rộng nhưng nhân lực uy tín khan hiếm, quy định quá cứng nhắc dễ dẫn đến việc lựa chọn mang tính hình thức, đối phó thay vì hiệu quả. Đại biểu đề xuất điều chỉnh theo hướng "ưu tiên" có sự tham gia của phụ nữ và người dân tộc thiểu số, đồng thời cần định lượng cụ thể thế nào là địa bàn "có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số" để dễ áp dụng, và bổ sung quy định chuyển tiếp để xử lý trường hợp khuyết thiếu nhân sự do biến động.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu đóng góp nhiều ý kiến để hoàn thiện Dự án Luật
Đặc biệt, về nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ (Điều 4), Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu chỉ ra mâu thuẫn giữa việc bắt buộc dùng tiếng Việt và quyền sử dụng tiếng dân tộc của các bên. Đối với vùng đồng bào thiểu số, việc sử dụng tiếng mẹ đẻ giúp công tác thuyết phục đạt hiệu quả cao nhất. Đại biểu đề xuất bãi bỏ quy định cứng buộc sử dụng tiếng Việt trong hòa giải ở cơ sở, giao quyền chủ động cho các bên và hòa giải viên tự thỏa thuận lựa chọn ngôn ngữ phù hợp.
Bảo đảm nguồn lực tài chính, thù lao và đẩy mạnh chuyển đổi số
Bên cạnh các quy định về mặt tổ chức, cơ chế tài chính bảo đảm và ứng dụng công nghệ thông tin là những điều kiện tiên quyết quyết định sự thành bại của hoạt động hòa giải trong tình hình mới.

Đại biểu Leo Thị Lịch (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) phát biểu
Đại biểu Leo Thị Lịch (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) đánh giá việc dự thảo Luật chuyển từ cơ chế ngân sách nhà nước "hỗ trợ" sang "bảo đảm" kinh phí là một bước tiến mới, quan trọng. Song, đại biểu băn khoăn về tính khả thi của nguồn lực thực tế, đặc biệt là khi địa bàn sau sắp xếp thôn, tổ dân phố trở nên rộng hơn, số lượng vụ việc tăng lên. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định rõ mức kinh phí tối thiểu từ ngân sách nhà nước dành cho công tác này, đồng thời xác định rõ chế độ thù lao theo vụ việc tương xứng với công sức thực tế của hòa giải viên và người được mời tham gia.

Đại biểu Nguyễn Bình Tân (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) phát biểu
Cùng chung mối quan tâm, đại biểu Nguyễn Bình Tân (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) đề nghị Chính phủ cần có hướng dẫn hết sức chi tiết đối với việc bảo đảm kinh phí cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Đồng thời, cần quy định cụ thể quy trình mời, thù lao và trách nhiệm pháp lý của người được mời tham gia. Đại biểu nhấn mạnh tính cần thiết của việc xác định rõ tỷ lệ phân chia thù lao khi hòa giải thành giữa hòa giải viên chính thức và người được mời tham gia, tránh phát sinh tâm lý đùn đẩy trách nhiệm từ phía hòa giải viên được bầu hoặc chỉ định.

Đại biểu Hồ Việt Triều (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) phát biểu
Đại biểu Hồ Việt Triều (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) cũng đề xuất bổ sung quy định mở rộng các đối tượng phối hợp, trong đó có lực lượng bảo vệ an ninh trật tự tại cơ sở tham gia hỗ trợ cùng hòa giải viên giải quyết các xung đột ngay từ đầu nhằm bảo đảm an ninh trật tự tại chỗ. Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số (Điều 24 và Điều 28), đại biểu Leo Thị Lịch đề nghị dự thảo Luật cần quy định cụ thể hơn về điều kiện, trình tự tiến hành hòa giải trực tuyến, giá trị pháp lý của hồ sơ, biên bản điện tử, phương thức xác thực danh tính các bên và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí.
Đơn giản hóa thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành và bảo vệ nhóm yếu thế
Để nâng cao giá trị pháp lý và khuyến khích người dân lựa chọn hòa giải ở cơ sở, thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành cần phải được thực hiện một cách thông suốt, thuận lợi.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu phát biểu
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu thẳng thắn chỉ ra điểm nghẽn hiện nay nằm ở Bộ luật Tố tụng dân sự. Trình tự, thủ tục xem xét công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án hiện hành đang quy định quá phức tạp, rườm rà, "như một việc dân sự được Tòa thụ lý và giải quyết từ đầu". Đại biểu kiến nghị Quốc hội trong thời gian tới cần đặt vấn đề sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự để áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với việc xem xét công nhận kết quả hòa giải ở cơ sở, nhằm phát huy tối đa hiệu quả phương thức giải quyết tranh chấp ưu việt này. Đại biểu Leo Thị Lịch cũng đề nghị bổ sung các hướng dẫn thủ tục đơn giản, ngắn gọn nhất, tránh biến vụ việc hòa giải thành công thành một quy trình tố tụng phức tạp khác.

Các ĐBQH tỉnh Cà Mau tại phiên thảo luận
Bên cạnh đó, các đại biểu đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình. Đại biểu Leo Thị Lịch kiến nghị dự thảo Luật phải có quy định nghiêm ngặt bảo đảm an toàn cho các nhóm yếu thế, tuyệt đối không sử dụng hòa giải để gây áp lực buộc họ phải từ bỏ quyền yêu cầu cơ quan pháp luật bảo vệ theo quy định. Đại biểu Nguyễn Thị Quý đồng tình và đánh giá cao quy định mới tại khoản 9 Điều 11, trao quyền cho hòa giải viên được đề nghị UBND cấp xã, lực lượng công an cấp xã có phương án bảo đảm an ninh trật tự khi nhận thấy mâu thuẫn có nguy cơ dẫn đến bạo lực. Tuy nhiên, để tinh giản tối đa các quy trình hành chính không cần thiết, đại biểu Nguyễn Bình Tân đề xuất lược bỏ khoản 4 Điều 12 về nghĩa vụ của hòa giải viên phải thông báo lại cho tổ trưởng tổ hòa giải khi đã trực tiếp đề nghị công an cấp xã can thiệp, tránh việc chồng chéo và gây chậm trễ trong thực tế giải quyết mâu thuẫn khẩn cấp.