
1. Mở đầu
Trong mọi thời kỳ cách mạng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng luôn được thể hiện rõ nhất ở cơ sở. Dù chủ trương, đường lối đúng đắn đến đâu, hiệu quả thực tiễn vẫn phụ thuộc trước hết vào quá trình tổ chức thực hiện tại thôn, khu phố, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp. Đồng thời, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được bồi đắp từ chính tác phong công tác, tinh thần trách nhiệm và sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình tiếp xúc, giải quyết công việc hằng ngày với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.113). Vì thế, xây dựng Đảng phải bắt đầu từ chi bộ, từ từng đảng viên cụ thể.
Sau sáp nhập, Bắc Ninh đứng trước thời cơ phát triển mới với không gian rộng lớn hơn, nguồn lực dồi dào hơn và khả năng liên kết vùng mạnh hơn. Song song với đó là những yêu cầu mới về quản trị thống nhất, thu hẹp sự chênh lệch phát triển giữa các khu vực, bảo đảm an sinh xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân. Nếu không củng cố nền tảng từ cơ sở, những lợi thế mới khó chuyển hóa thành động lực phát triển thực chất.
Thực tiễn cho thấy, ở những địa bàn tổ chức đảng bám sát cơ sở, kịp thời nắm bắt và giải quyết các vấn đề phát sinh, sự đồng thuận xã hội được củng cố, các phong trào phát triển có điều kiện lan tỏa hiệu quả hơn. Ngược lại, ở những nơi tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế về năng lực lãnh đạo, thiếu sâu sát và chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm, nguy cơ trì trệ trong tổ chức thực hiện và phát sinh bức xúc trong nhân dân có thể gia tăng. Vì vậy, củng cố chi bộ trong sạch, vững mạnh, gắn với chăm lo đời sống nhân dân là giải pháp căn cơ để Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
2. Nội dung
2.1. Một số vấn đề lý luận về xây dựng chi bộ vững mạnh, giữ thế trận lòng dân bền chắc
a) Chi bộ vững mạnh - gốc rễ sức mạnh của Đảng, pháo đài tư tưởng ở cơ sở
Đảng Cộng sản Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở. Trong hệ thống ấy, tổ chức cơ sở đảng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Điều 21 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, chi bộ “là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở” (Cổng TTĐT ĐCSVN, 2018), là “tế bào” tạo nên sức sống và năng lực lãnh đạo của toàn Đảng.
Chi bộ là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; cụ thể hóa nghị quyết của cấp trên thành chương trình hành động phù hợp với từng địa bàn, đơn vị; đồng thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Thông qua hoạt động thường xuyên của chi bộ, năng lực lãnh đạo, tinh thần trách nhiệm và phẩm chất của cán bộ, đảng viên được kiểm chứng trong thực tiễn. Bởi vậy, sức mạnh của Đảng được tạo nên từ các chi bộ vững mạnh; uy tín của Đảng được bồi đắp từ niềm tin của nhân dân đối với từng tổ chức cơ sở đảng.
Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của chi bộ càng trở nên quan trọng. Quá trình phát triển nhanh của đất nước, những biến đổi sâu sắc của xã hội, cùng sự phổ biến của internet và mạng xã hội đã tạo ra không gian thông tin đa chiều, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề phức tạp trong công tác lãnh đạo, quản lý và định hướng tư tưởng. Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị thường lợi dụng những vấn đề dân sinh, những vụ việc cụ thể hoặc sơ hở trong quản lý để xuyên tạc đường lối của Đảng, kích động bức xúc, gieo rắc hoài nghi. Nếu cấp cơ sở chậm nắm bắt tình hình, thiếu đối thoại với nhân dân, thiếu thông tin chính thức và thiếu bản lĩnh chính trị, những vấn đề phát sinh ban đầu có thể bị lợi dụng, làm phức tạp thêm tình hình.
Bởi vậy, chi bộ phải thực sự là “pháo đài tư tưởng” ở cơ sở. Pháo đài ấy không chỉ được xây bằng nghị quyết hay khẩu hiệu, mà bằng năng lực giải quyết công việc, trách nhiệm phục vụ nhân dân, sự gương mẫu của đảng viên và khả năng nói dân hiểu, làm dân tin. Khi chủ trương đúng được tổ chức thực hiện nghiêm túc, kiến nghị chính đáng được lắng nghe, khó khăn của nhân dân được tháo gỡ kịp thời, công bằng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng sẽ được củng cố từ chính thực tiễn đời sống.
Thứ nhất, chi bộ phải mạnh về chính trị, tư tưởng. Đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chấp hành nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trong mọi hoàn cảnh, toàn thể đảng viên phải giữ vững bản lĩnh, không dao động trước thông tin sai trái, không mơ hồ trước luận điệu xuyên tạc, không buông lỏng trận địa tư tưởng trên địa bàn phụ trách.
Thứ hai, chi bộ phải mạnh về tổ chức. Sinh hoạt chi bộ cần được thực hiện nền nếp, thực chất, có tính chiến đấu, tránh biểu hiện hình thức. Các cuộc họp chi bộ phải trở thành diễn đàn dân chủ để thảo luận giải pháp cho những vấn đề của địa phương, cơ quan, đơn vị; thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc; thống nhất ý chí và hành động.
Thứ ba, chi bộ phải mạnh về đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bí thư chi bộ cần có uy tín, bản lĩnh, công tâm, biết quy tụ quần chúng và dám chịu trách nhiệm. Mỗi đảng viên phải tiên phong trong lao động, chấp hành pháp luật, giữ gìn đạo đức, nói đi đôi với làm. Đối với nhân dân, hình ảnh của mỗi đảng viên chính là biểu hiện cụ thể của Đảng ở cơ sở. Một đảng viên gương mẫu có sức lan tỏa lớn; ngược lại, một cán bộ thiếu trách nhiệm có thể làm giảm sút niềm tin của cộng đồng.
Thứ tư, chi bộ mạnh phải là chi bộ gần dân. Gần dân để hiểu dân cần gì, lo gì, bức xúc gì; gần dân để tuyên truyền, vận động đúng lúc; gần dân để giải quyết vấn đề từ sớm, từ cơ sở. Xa dân là xa nguồn sức mạnh của Đảng. Mất dân là mất điểm tựa chính trị quan trọng nhất.
Tính đến ngày 30/11/2025, toàn Đảng có 50.852 tổ chức cơ sở đảng, gồm 14.782 đảng bộ cơ sở và 36.070 chi bộ cơ sở, 214.919 chi bộ trực thuộc và 2.861 đảng bộ bộ phận; với tổng số 5.647.312 đảng viên, chiếm khoảng 5,4% dân số cả nước (ĐCSVN, 2026, tr.157-158). Các loại hình chi bộ ngày càng đa dạng, được tổ chức rộng khắp ở cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, khu dân cư và cả ngoài nước. Vì vậy, xây dựng chi bộ vững mạnh toàn diện chính là xây từ gốc rễ sức mạnh của Đảng; củng cố chi bộ là củng cố nền tảng chính trị của chế độ. Đây vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc, vừa là đòi hỏi cấp bách trong giai đoạn phát triển mới.
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, xây dựng chi bộ thực sự trong sạch, vững mạnh, “gần dân, sát dân, trọng dân”: “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng, năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện cho đội ngũ cấp ủy viên và cán bộ chuyên trách công tác tại cơ sở Đảng” (ĐCSVN, 2026, tr.284).
b) Giữ thế trận lòng dân bền chắc - điều kiện quyết định mọi thắng lợi
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, một chân lý xuyên suốt được khẳng định là: khi lòng dân thuận thì việc khó mấy cũng thành, khi lòng dân ly tán thì thành quả lớn đến đâu cũng bị đe dọa. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh vai trò quyết định của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.453) hay “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.335). Đảng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, nhờ nhân dân mà trưởng thành. Vì vậy, giữ vững niềm tin của nhân dân không chỉ là yêu cầu công tác dân vận, mà là vấn đề chiến lược gắn trực tiếp với sự tồn vong của chế độ.
Trong bối cảnh hiện nay, khái niệm “lòng dân” không chỉ thể hiện ở tinh thần ủng hộ chung, mà được đo bằng mức độ hài lòng của người dân với chất lượng quản trị, hiệu quả phục vụ của bộ máy công quyền, sự công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển, khả năng lắng nghe và giải quyết kiến nghị của chính quyền cơ sở, cũng như tính minh bạch của thông tin công cộng. Nói cách khác, lòng dân được xây bằng việc làm cụ thể mỗi ngày.
Đối với tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập, việc giữ thế trận lòng dân càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi địa bàn mở rộng, dân cư đa dạng hơn, yêu cầu phát triển cao hơn, nếu không làm tốt công tác tư tưởng và dân vận thì những băn khoăn, so sánh, tâm lý cục bộ địa phương hoặc bức xúc dân sinh có thể tích tụ thành vấn đề phức tạp. Khi người dân cảm nhận rõ lợi ích từ chủ trương mới, được đối thoại thẳng thắn, được tham gia giám sát, thụ hưởng thành quả phát triển công bằng thì niềm tin xã hội sẽ được củng cố mạnh mẽ.
Giữ lòng dân trước hết phải bắt đầu từ chăm lo đời sống nhân dân. Người dân tin vào chủ trương khi đời sống thực tế được cải thiện: có việc làm ổn định, thu nhập nâng cao, giao thông thuận tiện, chất lượng giáo dục, y tế tốt hơn, môi trường sống an toàn hơn. Các chỉ số tăng trưởng vĩ mô chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành chất lượng sống của người dân. Do đó, mọi nghị quyết ở cơ sở phải hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Giữ lòng dân phải được thực hiện thông qua thực hành dân chủ thực chất. Dân chủ không chỉ dừng ở việc hội họp hoặc lấy ý kiến mang tính hình thức, mà phải bảo đảm để nhân dân được biết, được bàn, được tham gia và được giám sát những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình. Những nội dung như quy hoạch, đầu tư công, giải phóng mặt bằng, chính sách xã hội, quản lý đất đai, thu chi cộng đồng… càng công khai minh bạch thì càng tạo được sự đồng thuận.
Giữ lòng dân còn đòi hỏi giải quyết vấn đề từ sớm, từ cơ sở. Nhiều vụ việc phức tạp trong thực tế không bắt nguồn từ những vấn đề lớn, mà từ các mâu thuẫn, vướng mắc nhỏ kéo dài như: tranh chấp đất đai, ô nhiễm môi trường, thủ tục chậm trễ, thái độ cán bộ thiếu trách nhiệm, mâu thuẫn cộng đồng không được hòa giải kịp thời. Nếu chi bộ, chính quyền cơ sở sâu sát địa bàn, tiếp nhận phản ánh nhanh, đối thoại thẳng thắn, xử lý đúng pháp luật và thấu tình đạt lý thì nhiều nguy cơ phức tạp có thể được ngăn chặn từ sớm.
Trong thời đại số, giữ lòng dân còn gắn với giữ trận địa thông tin. Tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu xuyên tạc có thể lan truyền nhanh, tác động trực tiếp đến nhận thức và tâm lý xã hội. Vì vậy, nếu chậm cung cấp thông tin chính thức, khoảng trống thông tin dễ bị lấp đầy bởi những suy diễn thiếu căn cứ. Mỗi chi bộ cần coi truyền thông cơ sở là nhiệm vụ quan trọng: cung cấp thông tin nhanh, đúng, dễ hiểu; chủ động giải thích chính sách; kịp thời phản bác thông tin sai lệch bằng thái độ khách quan, thuyết phục và có căn cứ.
c) Xây dựng chi bộ vững mạnh và giữ thế trận lòng dân bền chắc là mối quan hệ hữu cơ, thống nhất
Chi bộ vững mạnh là điều kiện quan trọng để giữ lòng dân; niềm tin của nhân dân được củng cố là thước đo hiệu quả hoạt động và là nguồn lực để tiếp tục xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh. Đây là mối quan hệ hữu cơ, có sự tác động qua lại. Một chi bộ vững mạnh, sâu sát cơ sở, tôn trọng và dựa vào nhân dân sẽ lãnh đạo hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững kỷ cương, giải quyết kịp thời kiến nghị của người dân, từ đó củng cố niềm tin xã hội. Đồng thời, sự đồng thuận, tinh thần tham gia phong trào thi đua yêu nước, trách nhiệm giám sát cán bộ và góp ý xây dựng Đảng của nhân dân sẽ tạo thêm nguồn lực, uy tín và sức mạnh để chi bộ hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, xây dựng chi bộ vững mạnh phải gắn chặt với củng cố niềm tin của nhân dân; hai nhiệm vụ này có quan hệ mật thiết, không thể tách rời.
d) Ý nghĩa đối với Bắc Ninh trong giai đoạn phát triển mới
Bắc Ninh đang đứng trước thời cơ lớn để bứt phá mạnh mẽ với vị thế là cực tăng trưởng năng động của vùng Thủ đô và đồng bằng sông Hồng, là trung tâm công nghiệp điện tử, dịch vụ hiện đại và văn hóa giàu truyền thống. Quá trình mở rộng không gian phát triển, đô thị hóa nhanh, chuyển đổi số, thu hút đầu tư lớn và yêu cầu nâng cao chất lượng sống của nhân dân đặt ra nhiều nhiệm vụ mới đối với công tác xây dựng Đảng ở cơ sở.
Trong bối cảnh đó, xây dựng chi bộ vững mạnh sẽ tạo nên hệ thống chính trị cơ sở đủ năng lực lãnh đạo thực hiện các mục tiêu lớn, giữ thế trận lòng dân bền chắc sẽ tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển, huy động sức dân cho công cuộc đổi mới. Đây chính là nền tảng chính trị - xã hội quan trọng để Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, văn minh, hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
2.2. Thực tiễn xây dựng chi bộ và giữ thế trận lòng dân ở tỉnh Bắc Ninh
a) Thực tiễn Bắc Ninh và Bắc Giang trước sáp nhập: vai trò của chi bộ vững mạnh và thế trận lòng dân trong phát triển địa phương
Thực tiễn phát triển của Bắc Ninh và Bắc Giang trước sáp nhập là minh chứng rõ nét về sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ cơ sở, thành công của địa phương bắt nguồn từ lòng dân, gắn liền với sự đồng thuận của nhân dân. Từ hai tỉnh có xuất phát điểm thấp khi tái lập năm 1997, quy mô kinh tế nhỏ, kết cấu hạ tầng còn hạn chế, Bắc Ninh và Bắc Giang đã vươn lên trở thành những cực tăng trưởng năng động của vùng Thủ đô và khu vực phía Bắc. Quá trình chuyển mình đó không chỉ xuất phát từ vị trí địa lý thuận lợi hay khả năng thu hút đầu tư, mà còn từ việc hệ thống chính trị được củng cố, tổ chức cơ sở đảng được tăng cường, nhân dân đồng thuận, chung sức vì mục tiêu phát triển.
Dấu ấn nổi bật là sự chuyển dịch mạnh từ địa phương có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang trung tâm công nghiệp quan trọng. Bắc Ninh nhiều năm trong nhóm dẫn đầu cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp, là cứ điểm sản xuất điện tử lớn với sự hiện diện của nhiều tập đoàn toàn cầu. Năm 2024, Bắc Ninh thu hút khoảng 5,1 tỷ USD vốn FDI (Cục Thống kê, 2025), đứng đầu cả nước. Bắc Giang nổi lên là điểm sáng công nghiệp mới ở miền Bắc, tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2024 đạt khoảng 13,85% (Cổng TTĐT tỉnh Bắc Giang, 2025a), thuộc nhóm cao nhất cả nước. Hàng loạt khu công nghiệp như Yên Phong, Quế Võ, VSIP (Bắc Ninh), Quang Châu, Vân Trung, Việt Yên (Bắc Giang) đã tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, nâng cao thu nhập người dân và thúc đẩy đô thị hóa. Những kết quả đó cho thấy, khi chính quyền năng động, chi bộ vững mạnh, phát huy tốt vai trò lãnh đạo, môi trường xã hội ổn định và người dân đồng thuận, các chủ trương phát triển có điều kiện chuyển hóa thành kết quả cụ thể.
Trong xây dựng nông thôn mới, cả hai địa phương đều đạt nhiều kết quả nổi bật. Bắc Ninh là một trong những tỉnh hoàn thành sớm nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (Thư Sơn, 2022). Bắc Giang là điểm sáng của khu vực trung du miền núi phía Bắc; năm 2024 có 7/10 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới, 147/175 xã đạt chuẩn, đạt khoảng 84% (Cổng TTĐT tỉnh Bắc Giang, 2025b). Thành quả ấy không chỉ xuất phát từ nguồn lực đầu tư của Nhà nước mà còn bởi sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân thông qua việc hiến đất mở đường, đóng góp ngày công, chỉnh trang cảnh quan, bảo vệ môi trường. Ở nhiều thôn, khu phố, chi bộ đã phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo; đảng viên gương mẫu đi đầu, tạo sự lan tỏa để nhân dân tin tưởng, đồng thuận và tham gia. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy, khi chi bộ biết dựa vào dân, tôn trọng dân và khơi dậy sức dân, phong trào quần chúng có thể trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển.
Bắc Ninh và Bắc Giang cũng có nhiều chuyển biến tích cực trong cải cách hành chính và chuyển đổi số. Năm 2023, Bắc Giang xếp thứ 4/63 tỉnh, thành phố về Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), thuộc nhóm dẫn đầu cả nước (Khôi Nguyên, 2024). Bắc Ninh đẩy mạnh mô hình một cửa điện tử, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và xây dựng chính quyền số từ tỉnh đến cơ sở (An Trân, 2024). Việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, củng cố niềm tin xã hội. Thực tiễn này cho thấy, niềm tin của nhân dân được bồi đắp không chỉ bằng các chủ trương đúng đắn, mà còn bằng hiệu quả phục vụ cụ thể, thái độ trách nhiệm của cán bộ và khả năng giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng.
Cùng với phát triển kinh tế, hai địa phương còn quan tâm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa Kinh Bắc. Dân ca Quan họ, hệ thống di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề lâu đời trở thành nguồn lực quý giá, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, phát triển du lịch và bồi đắp niềm tự hào quê hương. Điều đó cho thấy phát triển bền vững không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế, mà còn cần chiều sâu văn hóa, sự gắn kết cộng đồng và vai trò dẫn dắt của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển nhanh cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới về quản lý giao thông, môi trường, cư trú và bảo đảm an ninh trật tự, nhất là trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số cơ học. Bên cạnh đó, ở một số nơi sinh hoạt chi bộ chưa thật sự đổi mới, việc nắm bắt tâm tư nhân dân có lúc chưa kịp thời, một số vấn đề dân sinh xử lý còn chậm (Báo Bắc Ninh, 2020). Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục xây dựng chi bộ vững mạnh, gần dân, sát dân và nâng cao năng lực quản trị từ cơ sở.
Từ thực tiễn Bắc Ninh và Bắc Giang trước khi sáp nhập có thể rút ra bài học: quá trình phát triển nhanh cần được đặt trên nền tảng xây dựng Đảng vững mạnh ở cơ sở; việc mở rộng không gian phát triển phải gắn với củng cố niềm tin của nhân dân; hội nhập sâu rộng cần đi đôi với giữ vững ổn định xã hội và phát huy bản sắc văn hóa. Khi chi bộ thực sự là hạt nhân đoàn kết, biết lắng nghe, gần dân, trọng dân và vì dân, sức dân sẽ được khơi dậy, trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển. Có thể khẳng định, chặng đường phát triển của Bắc Ninh và Bắc Giang thời gian qua đã chứng minh vai trò nền tảng của chi bộ vững mạnh và niềm tin của nhân dân. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để Bắc Ninh tiếp tục bứt phá trong giai đoạn tới.
b) Bắc Ninh sau sáp nhập: thời cơ phát triển và yêu cầu mới đối với xây dựng chi bộ, củng cố lòng dân
Sau sáp nhập, Bắc Ninh đứng trước nhiều thời cơ phát triển mới khi không gian phát triển được mở rộng, nguồn lực con người dồi dào hơn, giá trị văn hóa Kinh Bắc có điều kiện lan tỏa mạnh hơn và vị thế cạnh tranh của tỉnh trong vùng Thủ đô, đồng bằng sông Hồng được nâng lên. Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính tạo điều kiện để tỉnh quy hoạch tổng thể đồng bộ hơn về công nghiệp, đô thị, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao, logistics và hạ tầng xã hội; đồng thời mở ra khả năng liên kết các nguồn lực phát triển trên phạm vi rộng hơn. Tuy nhiên, những thời cơ đó chỉ có thể chuyển hóa thành kết quả thực chất khi được đặt trên nền tảng chính trị vững chắc từ cơ sở, trong đó chi bộ giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo, cán bộ, đảng viên phát huy trách nhiệm nêu gương và nhân dân đồng thuận tham gia.
Trước hết, yêu cầu quản trị xã hội ở cơ sở phải chuyên nghiệp, thống nhất và hiệu quả hơn. Khi địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn, cơ cấu kinh tế - xã hội đa dạng hơn, chính quyền các cấp phải xử lý nhiều vấn đề phức tạp hơn, từ quy hoạch, đất đai, môi trường, giao thông, an sinh xã hội đến lao động nhập cư, nhà ở công nhân, trường học, y tế, an ninh trật tự, chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính. Trong bối cảnh đó, nếu chi bộ và chính quyền cơ sở không sâu sát địa bàn, chậm nắm bắt tình hình, thiếu năng lực tổ chức thực hiện hoặc thiếu cơ chế đối thoại với nhân dân, các vấn đề dân sinh có thể kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin xã hội. Vì vậy, xây dựng chi bộ vững mạnh phải gắn với nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị và phục vụ nhân dân ngay từ cơ sở.
Thứ hai, quá trình phát triển sau sáp nhập đòi hỏi phải bảo đảm công bằng và hài hòa lợi ích giữa các khu vực, các nhóm dân cư. Sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa đô thị và nông thôn, giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp, giữa trung tâm và vùng xa có thể tạo ra tâm lý so sánh nếu việc phân bổ nguồn lực, đầu tư hạ tầng, thực hiện chính sách an sinh và giải quyết các vấn đề dân sinh không được tiến hành công khai, minh bạch, thỏa đáng. Đây là vấn đề có liên quan trực tiếp đến công tác dân vận và vai trò của chi bộ ở cơ sở. Chi bộ phải là nơi nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, góp phần điều hòa lợi ích, giải thích chính sách, tạo đồng thuận và hạn chế những băn khoăn phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển.
Thứ ba, đời sống thông tin trên không gian mạng diễn biến nhanh đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác tư tưởng và truyền thông cơ sở. Những vấn đề liên quan đến đất đai, dự án, cán bộ, chính sách hỗ trợ, sắp xếp tổ chức bộ máy hoặc thay đổi trong quản lý hành chính nếu không được cung cấp thông tin kịp thời, chính xác rất dễ bị suy diễn, khai thác, xuyên tạc, tác động đến tâm lý và niềm tin của người dân. Vì vậy, chi bộ cần chủ động hơn trong định hướng thông tin, giải thích chính sách, phản bác thông tin sai lệch và tạo kênh đối thoại thường xuyên với nhân dân. Giữ vững lòng dân trong bối cảnh mới không chỉ là chăm lo đời sống vật chất, mà còn là bảo đảm cho người dân được tiếp cận thông tin chính thống, được lắng nghe và được tham gia giám sát những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình.
Trong giai đoạn mới, Bắc Ninh có nhiều thời cơ để phát triển, song để chuyển hóa các lợi thế đó thành kết quả bền vững cần một nền tảng chính trị vững chắc từ cơ sở. Nền tảng đó được tạo nên từ các chi bộ trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, đảng viên có trách nhiệm, gần dân, trọng dân, vì dân; cùng sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân. Đây là yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với quá trình xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững.
2.3. Một số giải pháp xây dựng chi bộ vững mạnh và giữ thế trận lòng dân bền chắc, tạo nền tảng để Bắc Ninh phát triển
Giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa bản lề đối với Bắc Ninh, khi tỉnh vừa ổn định tổ chức bộ máy, vừa tăng tốc phát triển theo mục tiêu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ I đã đề ra. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng vững mạnh từ cơ sở, nâng cao năng lực lãnh đạo của chi bộ và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Trước hết, phải thực hiện tốt Đề án số 03-ĐA/TU ngày 31/12/2025 về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong Đảng bộ tỉnh giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Để làm được điều đó, cần nâng cao chất lượng chi bộ một cách toàn diện. Cấp ủy các cấp cần rà soát, đánh giá thực chất tình hình hoạt động của từng chi bộ; xác định rõ những mô hình hiệu quả để nhân rộng, những nơi còn hạn chế để tập trung củng cố. Đối với những chi bộ có biểu hiện sinh hoạt hình thức, nội bộ thiếu đoàn kết, năng lực lãnh đạo hạn chế, cần phân công cấp ủy viên phụ trách, theo dõi và hỗ trợ trực tiếp. Đồng thời, cần xây dựng mô hình chi bộ kiểu mẫu gắn với các tiêu chí cụ thể như sinh hoạt nền nếp, đảng viên gương mẫu, sâu sát nhân dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Khi mỗi chi bộ có chuẩn mực phấn đấu rõ ràng, chất lượng tổ chức cơ sở đảng sẽ được nâng lên một cách bền vững.
Thứ hai, cần chú trọng phát triển đội ngũ đảng viên trẻ, tạo nguồn kế cận lâu dài cho Đảng. Trong bối cảnh cơ cấu dân số trẻ và chuyển dịch lao động mạnh mẽ hiện nay, việc phát triển đảng viên mới cần hướng tới thanh niên ưu tú, công nhân trong các khu công nghiệp, chủ doanh nghiệp nhỏ, trí thức trẻ, cán bộ khoa học kỹ thuật và những người có uy tín trong cộng đồng. Đây là lực lượng năng động, có tri thức, nhạy bén với cái mới, có khả năng lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo. Nếu không chủ động tạo nguồn từ sớm, nhiều chi bộ sẽ đối diện nguy cơ già hóa đội ngũ, thiếu sức bật trong tương lai.
Thứ ba, cần xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực số và tư duy quản trị hiện đại. Bắc Ninh đang chuyển mạnh sang mô hình phát triển công nghiệp công nghệ cao, đô thị thông minh, chính quyền số; vì vậy cán bộ cơ sở cần được trang bị kỹ năng làm việc phù hợp, không chỉ dựa vào kinh nghiệm và phương thức truyền thống. Cán bộ chi bộ, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố cần được bồi dưỡng kỹ năng sử dụng dữ liệu, phần mềm quản lý dân cư, nền tảng tiếp nhận phản ánh hiện trường, kỹ năng truyền thông số và xử lý thông tin trên mạng xã hội. Khi cán bộ sử dụng thành thạo công nghệ, chất lượng phục vụ nhân dân sẽ được nâng cao theo hướng nhanh chóng, minh bạch và hiệu quả.
Thứ tư, cần lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo quan trọng trong đánh giá cán bộ và chi bộ. Kết quả báo cáo không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ chất lượng hoạt động thực tế. Vì vậy, cần bổ sung các tiêu chí đánh giá dựa trên mức độ đồng thuận của dân, tỷ lệ giải quyết kiến nghị đúng hạn, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, kết quả cải cách hành chính và uy tín trong cộng đồng. Ở những nơi nhân dân tin tưởng, đồng thuận và chủ động tham gia các phong trào, tổ chức đảng ở cơ sở sẽ có nền tảng vững chắc để phát huy vai trò lãnh đạo.
Thứ năm, gắn xây dựng Đảng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chi bộ không chỉ làm công tác tổ chức mà phải trực tiếp lãnh đạo phát triển sản xuất, thúc đẩy khởi nghiệp nông thôn, hỗ trợ kinh tế hộ gia đình, phát triển làng nghề, du lịch văn hóa, thương mại điện tử và kinh tế số. Khi các chủ trương phát triển được triển khai hiệu quả, đời sống của nhân dân được cải thiện, niềm tin của nhân dân đối với Đảng sẽ tiếp tục được củng cố.
Thứ sáu, chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ cơ sở. Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái không chỉ dựa trên cơ sở lý luận, mà còn phải được củng cố bằng thực tiễn phát triển sinh động của địa phương. Một chi bộ đoàn kết, sâu sát nhân dân, giải quyết công việc kịp thời, hiệu quả sẽ góp phần củng cố niềm tin xã hội và hạn chế tác động của các luận điệu xuyên tạc. Cán bộ, đảng viên cần chủ động cung cấp thông tin chính thức, lan tỏa các nhân tố tích cực, gương người tốt, việc tốt, qua đó giữ vững niềm tin của nhân dân trong mọi tình huống.
3. Kết luận
Xây dựng chi bộ vững mạnh là củng cố năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng từ cơ sở, nơi trực tiếp cụ thể hóa nghị quyết thành hành động trong thực tiễn. Giữ vững lòng dân là giữ thế trận quyết định mọi thắng lợi. Khi nhân dân đồng thuận, khó khăn sẽ được vượt qua.
Bắc Ninh sau sáp nhập đứng trước thời cơ lớn để phát triển nhanh, hiện đại và giàu bản sắc. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đó, yêu cầu quan trọng là xây dựng nền tảng chính trị vững chắc từ cơ sở và củng cố sự đồng thuận của nhân dân. Nền tảng ấy được tạo nên từ từng chi bộ trong sạch, vững mạnh; từng cán bộ, đảng viên tận tụy, trách nhiệm; cùng niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền. Khi chi bộ phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo, đảng viên tiên phong, nhân dân đồng thuận và tham gia với tư cách chủ thể, Bắc Ninh sẽ có nền tảng quan trọng để phát triển nhanh, toàn diện và bền vững.